Nguyễn Văn Sâm

Victorville, CA, June 1-10, 2011

Về Một Ngôi Trường

Trần Hoài Thư

Con đường ấy tôi đã qua lại lắm lần. Như một câu văn của Thanh Tịnh trong bài Mùa Tựu Trường, tôi cũng muốn nói về một ngôi trường mà hầu như mỗi ngày tôi đều qua lại. Từ một ngôi nhà trên đường Phan Thanh Giản, nơi tôi -một đứa con lưu lạc từ miền Trung về làm rể- qua trường trung học, mỗi sáng, mỗi chiều theo từng nhịp trống của tuổi học trò, giữa rừng học trò như từng đàn bướm nhỏ. Buổi sáng sớm, ngoài đường đã nghe xôn xao tiếng cười nói của các em học sinh, và buổi chiều, từng đoàn xe đạp trở về, hay những nhịp guốc rộn ràng trên đường nhựa. Mắt nhắm lại, tôi cũng có thể hình dung những tầng lầu bên trong bờ thành cao màu vôi vàng nhạt. Mắt nhắm lại, tôi cũng có thể thấy rõ, một nơi trú ngụ của một thời. Đó là tuổi học trò. Đó là những ngày xanh hồng, đôi khi một viên sỏi cũng đầy kỷ niệm, một tiếng trống trường cũng phải làm mình ngẩn ngơ, một con chim sẻ nhảy liến thoắng cũng làm lòng người học trò, lớn lên, xao xuyến. Huống hồ nơi đó, người học trò đã có cả vạn ngày, mà nhớ lại, không biết có thể đếm cho đủ những chuyện vui buồn, theo từng trang sách vở.

Tôi không phải là học trò Phan Thanh Giản. Nhưng đối với tôi, có một sợi dây vô hình nào đó đã nối buộc con tim tôi với mái trường lấy tên một người sĩ phu bất khuất. Nhạc phụ tôi là Tổng thư ký của trường. Vợ tôi, các em vợ tôi, thảy thảy đều là học sinh của trường. Láng giềng hàng xóm, thân thích, bà con của phía vợ tôi cũng có mặt dưới mái trường. Các vị thầy của trường đã đến nhà vợ tôi hằng bữa, và nhạc phụ tôi không bao giờ quên giới thiệu một thằng rể miền Trung. Những mẩu chuyện về trường, về quí thầy, những người học trò, hầu như mỗi ngày tôi đều nghe, để bây giờ, chúng như sống lại trong tiềm thức của mình. Tôi biết rõ về những cá tính của quí thầy hay những bạn bè của Yến. Cần Thơ xa lạ trở nên gần gũi. Con đường Phan Thanh Giản, chỉ ngắn chừng một cây số, một đầu dẫn về bờ sông, một đầu là trường. Những trụ đèn, những tiệm ăn, tiệm tạp hóa, hay những ngôi nhà bên đường, tôi đều thân thuộc. Nhà này của thầy Đới. Nhà kiacủa thầy Đặng… Hai cây mận trước sân nhà vẫn tiếp tục nở bông, và đơm trái, không cần biết gì đến những biến động của lịch sử. Những đứa học trò theo mùa của trời đất, lớn lên rời trường, rời bạn, để tiếp tục kêu mày tao, bà, hay những tên thân thương xa xưa. Qua Yến, tôi được quen họ, nào chị Loan, chị Thơ, Hương Diệu, Tuyết Phi, Kiều, Triệu Quới, nào là anh Tòng, anh Bé, anh Thăng, anh Lê Hoàng Viện, Nguyễn Cát Đông… Nhiều thật là nhiều tôi không sao kể hết.

Đầu tháng năm, 1975 tôi đi trình diện, và bị tập trung tại trường Phan Thanh Giản.

Tháng năm, tháng bắt đầu của mùa chia tay, nhưng bây giờ tháng năm, không còn là những bài lưu bút ngày xanh, những bịn rịn lưu luyến trong ngày chia tay, mà là lệ đỏ và nỗi câm lặng khủng khiếp. Nền lớp chen chúc người. Cửa lớp mở ra, thay vì nhìn một bầu trời xanh, hay những áng mây trắng vô tình đậu lại, bây giờ là một màu mây xám. Tôi đã nằm ở đấy, mà người ta đã cho tôi một chỗ, đủ để dài đôi chân trên chiếc chiếu hẹp, để tôi được nhìn lên chiếc bảng, còn lại, mà nhớ đến một vị thầy nào. Trên sân, không biết còn lỗ bi, lỗ đáo nào còn sót lại hay không. Ai viết những dòng than trên vách tường: “Ước gì mắt ta được mù taita được điếc”. Tâm trạng của chúng tôi vào những ngày nằm trong trường Phan Thanh Giản là thế đó.

Một ngày, hình như buổi xế trưa thì phải, chúng tôi được lệnh tập trung tại sân cờ. Đây là lần đầu tiên, chúng tôi được lệnh tập trung. Có biến cố gì không. Có thay đổi gì trong chính sách không. Không ai có thể biết được. Rồi tay Thượng úy đứng trên thềm xi măng của cột cờ, cầm giấy đọc. Hắn đọc gì. Không. Hắn kết tội. Lần này không phải buộc tội chúng tôi, ngụy quân, ngụy quyền, phản động, tay sai. Mà hắn kết tội cụ Phan Thanh Giản, tên của một ngôi trường. Hắn không kêu là cụ, là ông, mà từ đầu bài đến cuối bài là chữ “tên”. Tên bán nước. Tên đầu hàng. Tên có tội đối với nhân dân. Tên tự tử vì hèn nhát. Tôi không thể nhớ nỗi bao nhiêu chữ tên mà hắn dùng. Sau đó là hai tay cảnh vệ dùng búa đập tượng. Đập cuồng điên. Nhưng họ không phá hết. Họ vẫn còn chừa lại tấm thân bị thương tích, loen lở, bên chiếc đầu gãy lìa khỏi cổ, trơ vơ dưới nắng.

Chúng tôi kinh hoàng. Không phải vì kinh hoàng bởi vì nỗi sợ hãi. Nhưng bởi vì âm thanh từ cái búa giáng trên đầu pho tượng từng nhát một như những vết thốn đau nhức cả tim óc.

Đến một người như cụ Phan Thanh Giản mà người ta còn mang ra hành tội, thì không còn một ý kiến gì nữa. Chúng tôi, không ai dám nhìn thẳng.

New Jersey, 22-3-1997

Trần Hoài Thư

Người Quét Mộ Cụ Phan

Năm sáu đứa học trò coi bộ thiếu ăn, ốm nhom, chừng 12, 13 tuổi nhảy chưn sáo chung quanh đoàn du khách, nhìn ngó lom lom từng người như muốn khám phá điều gì đó. Cuối cùng một đứa coi bộ sáng láng nhứt rụt rè nói với tôi:

‘Chú có muốn đi thăm ông Sáu Hấu không vậy? Ai tới đây cũng đi thăm ông Sáu Hấu hết .’

Tôi quay lại, hỏi bằng mắt. Đứa khác chỏ miệng xía vô:

‘Giờ nầy chắc ổng có ở nhà đó.’

Đứa nầy thúc đứa kia, co ro, chùm nhum vô một đám nhưng không đứa nào tới quá gần chúng tôi.

‘Chắc chắn là có . Năm giờ rồi. Cở chừng 4 giờ thì ổng đã về rồi .’

Tiếng mà,hàcủa nó lập lại, kéo dài, dễ mến cách gì. Bỗng nhiên tôi thấy mình muốn biết nhân vật Sáu Hấu nầy.

‘Mà ông Sáu Hấu là ai vậy mấy cháu?’

‘Ổng là người quét mã Cụ Phan đó .’

Hết lại ! Tôi cười trong bụng.

‘Ủa lạ há? Vậy ai trả tiền cho ông ta?’

‘Đâu ai trả tiền cho ổng đâu . Ổng tự nhiên lấy chổi quét mình ên mỗi ngày. Ban đầu người ta còn đuổi đi nhưng thét rồi chán không ai rầy rà nữa, ổng cứ quét tự nhiên như nhà của ổng hà, họ để ổng mình ên muốn làm gì làm.’

Tôi khoái tiếng mình ênnầy, còn làm bộ ngu ngơ:

‘Bộ chủ đất hay là chủ mã ngầy ngà ổng hả?’

Mấy đứa nhỏ bỗng nhiên xô nhau chạy nhảy lung tung, cười nức nẻ:

‘Làm gì có chủ mã! Đó là Chú Tám Chinh, Chủ Tịch Xã đó.’

Mệt quá với mấy cái tên như Sáu Hấu, Tám Chinh…, nghe qua khó nhớ thấy bà nội. Tôi tò mò thêm nên quyết định đi tới nơi cho biết nhân vật Sáu Hấu.

‘Xa không vậy mấy đứa?’

‘Quẹo sau bụi chuối đằng kia, đi thẳng chừng mười phút, bỏ cái chùm cây nhum thì thấy nhà ổng dưới cây trâm bầu lớn nhứt chỗ ao cá đó.’

Một đứa liếng thoắng nhứt chỉ thằng nhỏ vừa mới nói câu vừa rồi.

‘Đó là hố bom có ông nội nó bị bắn chết hồi xưa ở đó.’

Tôi thở dài, nói nho nhỏ : ‘Chiến tranh di hại lâu dữ ha, tới bây giờ còn để lại vết tích.’

Thằng nhỏ nghe nhắc chuyện xưa có vẽ ngơ ngác, chắc nó lạ lẫm với cái từ chiến tranh di hại. Nó ngó tôi lặng thinh. Cái thằng! Chỉ đường coi bộ rành rọt nhưng làm cho tôi lờ mờ thêm vì cây trâm bầu ra làm sao tôi thiệt tình không biết, chỉ biết qua cái tên của một cuốn tiểu thuyết nào đó thời xa xưa. Cây nhum thì tôi còn mù tịt hơn.

‘Tụi con đi với chú.’ Một đứa con gái nảy giờ lặng thinh bây giờ mới lên tiếng.

Đó, tôi biết ông Sáu Hấu trong trường hợp như vậy bốn năm về trước khi thiết đặt chương trình đi thăm mộ các danh nhân trong nước. MộPhan Thanh Giản nằm ở cái xã nhỏ thuộc huyện Ba Tri, Bến Tre. Điều đầu tiên làm tôi thất vọng khi so sánh mộ Cụ Phan khiêm nhường ở trong một rẻo đất, chung quanh đầy nhà cửa dân chúng, cây cối mọc lan tràn lấn chiếm, trong khi đó lăng Nguyễn Đình Chiểu cách không xa bao nhiêu nằm ở một vị thế trang trọng, có đền thờ, có quá nhiều bậc thềm lên lăng, có mấy cô thuyết minh duyên dáng lịch thiệp, có nhiều người săn sóc, quét tước, tỉa cây và nhang đèn cung cấp cho khách viếng với giá tự nguyện.

Ông Sáu Hấu cười như mếu:

‘Điều vui cho Cụ Phan là Cụ có bạn láng giếng’, ông vừa nói vừa hất hàm chỉ về ngôi mộ của Võ Trường Toản ở gần đó. ‘Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu chỉ có người sống đến làm lễ nầy lễ kia, còn đại thần Phan Phan Thanh Giản có bạn cõi âm cận kề tâm sự luôn luôn. Chưa biết điều nào làm thỏa lòng người đã khuất hơn!’

Tôi buột miệng ngâm:

Sanh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử..

Ông Sáu Hấu làm tôi ngạc nhiên khi tỏ ra hiểu rành vế đối:

‘Ừ! Cụ Võ không con mà có bao nhiêu học trò trọng nể coi như cha ruôt. Cụ Phan có nhiều con cháu nay vì thời thế tản lạc tứ phương. Tôi quét mộ Cụ coi như là cháu chít tinh thần…. Mà cần gì máu thịt hả? Thương nể chân thành là được rồi. Tôi thương mến Cụ vì tập Lương Khê Thi Thảo, tôi nể phục Cụ vì chén thuốc độc ung dung bưng đưa lên môi uống cạn.’

Ngoài sân một con gà mái đương túc con, độ mười con gà con lông tơ vàng, dễ thương cách gì tít tít chạy theo mẹ. Chút nắng vàng èo uột sót lại trên tàng cây càng làm cho cảnh trí mang thêm nét tiêu điều cố hữu.

Tôi hậm hực hỏi giống như tra vấn:

‘Sao mộ Cụ Phan không được chánh quyền địa phương săn sóc trong khi ông là đại thần dính dáng đến lịch sử và đất địa nầy, ông đã sống tiết tháo và chết oai hùng với nhiệm vụ. Cụ Nguyễn Đình Chiểu chỉ là nhà văn lên tiếng chống ngoại xâm thôi, không có dịp chứng tỏ sự anh dũng bằng hành động dầu rằng văn ông bốc lửa khi nước nhà ngữa nghiêng?’

‘Biết đâu ! Muốn thì người ta làm, hơi sức đâu mà giải thích. Với lại ai dám hỏi mà người ta có dịp nói ?’

Tôi thích thêm tiếng chấm câu của ông Sáu Hấu, cũng như tôi thích tiếng lúc còn học Trung Học qua miệng cô bạn cùng lớp mang dòng máu đất Thăng Long văn vật xa xưa. Nói chung tôi thích những tiếng ít người dùng như tía, chế, hia, nhưmình ên, nhưhuốt, nhưthây nó… Thích tiếng, lắm khi tôi thích luôn người xài tiếng đó mà không biết tại sao. Trong năm đầu tiên vô Đại Học tôi quấn quít bên thằng Ngầu, nó là kho tàng tiếng địa phương mà tôi chưa có dịp khám phá. Thích tiếng lạ, tôi lại mê những vật có tên là lạ, tôi thích cầm cái ky, mân mê cái chày vồ, ưa rờ cái khạp da bò, thích ngồi mép đít trên thành cái mái vúto tổ chảng, thích lột ăn từ lớp từ lớp bánh píangon lành, thích thưởng thức bánh thửng, mè xửng, bánh còng, bánh khọt, bánh tai heo, thích nhìn ngắm mấy lớp bánh da lợnmàu mè… Tóm lại, tôi khoái nghe những tiếng lạ lạ, chơn chất không tìm thấy trong văn học, chỉ tồn tại bằng giọng nói của người bình dân nơi thôn quê ruộng rẫy.

‘Nè ông Sáu!’ Tôi giải thích theo kiểu khiên cưỡng là đất nước mình cần anh hùng. ‘Dám chống lại giặc, đối đầu với lực lượng áp đảo của giặc là anh hùng. Giao thành cho giặc xong dầu uống thuốc độc tự vận cũng là đầu hàng giặc, đâu thể gọi là anh hùng được phải không? Hạ bệ là phải thôi.’

Ông Sáu Hấu bình thản quấn điếu thuốc sâu kèn, đốt lửa, bập bập:

‘Chuyện đời, ở bên ngoài biết hết bí ẩn bên trong được đâu ! Giao thành để cứu dân ba tỉnh hay nướng hết dân đen ba tỉnh cho súng lớn súng nhỏ cái nào hay? Nói nhón một câu, khó biết lắm ông Việt Kiều ơi? Bàng nhơn thiên hạ phê bình thì dễ, tới chừng đụng chuyện mới biết khó dàng trời mây, bứt hết tóc cũng tính không ra kế.’

Tôi nhột khi bị kêu bằng Việt Kiều. Chẳng biết tại sao nữa, nhưng mà áy náy giống như mình làm điều gì sai trái người ta biết tẩy nhưng không nói ra. Có lẽ tôi mặc cảm trước việc làm vô vị lợi của ông già gầy còm nầy trong khi mình mạnh khỏe bảnh bao thọc tay vô túi quần đứng ngó. Tôi nói đẩy đưa cho có chuyện:

‘Và ông cho rằng biết thời thế để xử trí như Cụ Phan là anh hùng. Quét lau mộ Cụ, ông chứng tỏ rằng mình theo bảng giá trị khác với người đời phải không? Nói thiệt đi ông bạn!’ Tôi dùng chữ ông bạnvới giọng thân mật, cầu hòa.

Ông Sáu Hấu ngó xuống cườm tay mình, đen mốc, khét nắng, sần sùi thẹo, rải rác mấy chỗ da chai, không trả lời thẳng, chỉ nhẹ nhàng:

‘Ừ thì làm nhón vậy mà. Cực khổ gì đâu chú em. Ngồi ngó mong ra ngoài sân cũng hết ngày, hết đời. Bóng thiều quang có chờ đợi ai bao giờ đâu. Quét tướt quơ quào ba cái lá khô, mấy đống chó ị cho mát dạ tiền nhơn vậy mà! Tôi nói bậy bạ vậy mà chú em thấy phải không chớ?’

Ông đứng dậy, hai cái ống quần xà lỏn hơi rộng, đong đưa trong khoảng không giữa lớp vãi quần xám mốc và bắp chân đen đủi như khúc củi mục nhỏ xíu của ông, tay vói lấy cây chổi tào cau, tay cầm nùi giẻ bỏ vô một cái sô lưng lửng nước. Bộ tịch hơi chậm, chưn đứng lên run run. Tuổi già ở quê tới mau hơn dân thành thị.

‘Đi! Tôi phải quét mộ cụ. Mặt trời xuống chút nữa thì tụi nhỏ cặp nầy cặp kiangồi choáng chỗ khó lau quét.’

Tôi đề nghị xách giùm ông sô nước, ông Sáu Hấu từ tốn gạt nhẹ tay tôi ra điều nói mình chưa già.

Nơi mộ danh nhân kia, bóng chiều đã xuống nhiều, gió mát lạnh. Hai ba cặp trẻ đã giành những chỗ tốt, mấy chiếc xe gắn máy dựng che nửa hở nửa kín cho chỗ tình tự, mân mơn.

Ông Sáu Hấu lui cui quét dọn, như mình không có mặt trên cõi đời nầy. Ông nói nhỏ với tôi:

‘Đừng ngó bọn trẻ. Mắc cở tội nghiệp. Tuổi mới lớn thời nào cũng vậy thôi. Hưởng, mai tính theo mai.’ Ông nheo mắt mặt như dân chơi thứ thiệt: ‘Hôm nào huỡn huỡn mình ôn lại chuyện cũ đời mình coi. Đâu thua gì chúng nó đâu nè!’

Qua Tết, tôi mượn cớ dò đọc bài văn biatrên mộ Cụ Phan, lâu rồi hứa chép tặng một cơ quan văn hóa ở bên nầy, nên xuống lại vùng mộ Cụ để có dịp nói chuyện bá vơ với ông Sáu Hấu.

Thấy gần cả chục dưa bự xộn bỏ lăn lóc trong góc nhà, tôi xuýt xoa rằng ông ăn Tết quá lớn, ông giải thích:

‘Thằng Tám Chinh cho người đem tặng đó, tôi đâu thèm nhận. Của ăn cắp nhận mang tiếng chết. Tuần trước gần ngã ba đường cái có hai xe tãi chỡ dưa, giành lấn đường sao đó mà một xe lật nhào xuống ruộng, dưa bể lăn lủ khủ, tài xế cà nhắc bỏ chạy trốn, dân chúng hè nhau tới hôi dưa mang về chưng Tết. Bậy hết chỗ nói! Đã vậy mà thằng Tám Chinh còn thị thiềng cho bà con của nó đem xe ba bánh tới chỡ ra chợ bán. Tôi la rầy phản đối, nó trám miệng bằng mấy trái dưa ế nầy, nói là để kiếng Cụ Phan. Nói kiếng Cụ Phan thì tôi phải nhận nhưng mà chỉ để đó, thủng thẳng rồi tính. Vong hồn Cụ đâu chứng giám kiểu ăn cướp có ba tăngnầy mà kiếng với cúng.’

Tôi buột miệng nói một câu lãng nhách, hớ vô cùng:

‘Thôi mình lấy một trái xẻ ăn, còn bao nhiêu trả lại tụi nó.’

Sáu Hấu đỏ bừng mặt, lớn tiếng phản đối:

‘Ông là Việt Kiều mà nói vậy nghe được sao? Muốn ăn thì tôi ra chợ mua về một cặp mình ăn cho đã luôn. Của nầy là của bá vơ, ăn nuốt làm sao trôi khỏi cổ?’

Tôi phải cười mơn, giả lả là nói chơi, ông Sáu Hấu lâu lắm mới nguôi nguôi cơn giận.

Lúc sau tôi giả bộ thiệt thân tình hỏi về vợ con, ông ngâm nga theo điệu thơ Quê Hương … Chuyện chồng con khó nói lắm anh ơi. Rồi ông kéo áo lên khỏi bụng:

‘Xin lỗi ông Việt Kiều nha, tôi không tính cho ông biết cái vụ nầy nhưng mà… Thôi! Cái thẹo chần vần như vầy mà vợ con gì nữa.’

‘Sao lạ vậy kìa?’

‘….Thuyền tui tới Hồng Kông sau khi ở đây đã hết hạn tiếp nhận người tỵ nạn cho nên họ nhốt hết nguyên đám vô tù. Rạc ràng chừng hơn hai năm thì có chuyện cưỡng bức hồi hương. Mẹ, mình đã đánh đố với Tử Thần để đi thoát mà bị cưỡng bức hồi hương vì là người khách đến trễ giờ thì có là ăn c. Biểu tình hoài mà họ cứ trói từng người liệng lên xe trả về, từng đợt, từng đợt. Tụi tui 9, 10 đứa xung phong rạch bụng tự tử để phản đối. Máu chảy ngập sân, nhầy nhụa đỏ gạch mà nhân loại ngủ hết, chẳng ai lên tiếng lên tăm. Mấy đứa chết thẳng cẳng, còn mấy đứa ngất ngư. Tôi tỉnh dậy thì thấy mình đương ở trên máy bay bay về nơi xuất phát, bụng còn băng mấy lớp, máu tươm ra thấm đỏ áo. Cô nhân tình bé bỏng mất liên lạc từ đó.’

Tôi thở dài:

‘Thôi thì là… số mạng hết ông Sáu à! Ở đâu cũng là do thiên định sẵn rồi. Bôn ba chẳng qua thời vận. Cần là mình sống cho phải đạo. Quét mộ Cụ Phan, ông ơi, phải đạo hơn ngàn lần làm Việt Kiều quậy phá, ăn cắp ăn gian tiền nọ tiền kiacủa đất nước rộng mở bao dung.’

Sáu Hấu vui hơn đôi chút, tâm sự:

‘Thời gian ở trại, những đêm mưa rỉ rã, âm thanh giọt mưa gõ lên mái tôntrong đêm vắng nghe như nhạc chết, nói lên cái tương lai đen tối của người chẳng có quê hương. Thêm buồn vì sự tranh đấu phải giữ kín, không dám lộ, tôi ngâm nga mấy câu thơ của Cụ Phan làm khi Cụ đi xa không thể ngủ:

Nằm không ngủ đêm thành dài vô tận,

Nín lặng thinh ý tưởng hóa thâm trầm.

Năm tàn hết chuyện ngày qua tồn đọng,

Trở thành xưa cổ tích của ngàn năm.

Sông trôi chảy sánh thời gian tuôn lướt,

Vầng trăng kia soi mượt đỉnh cô phong.

Mang tâm sự biết ai đâu kỳ vọng,

Khách địa buồn đau xoáy buốt thân tâm.

‘Về lại đất nước mình, sau thời gian lăn lóc kiếm ăn khó nhọc, tôi trôi dạt tới đất địa linh nầy. Thấy mộ Cụ Phan điêu tàn, gà bới, chó chạy rong ị bậy, bọn trẻ xả rác lềnh khênh, mấy đứa chăn trâu đập bể đá cẩn, khẻ khờn mép bia… nhớ lúc ở trại trong vòng rào kẻm gai, tôi nuôi sống tâm hồn mình bằng bài thơ Bất Mỵcủa Cụ nhờ đó khỏi điên, khỏi nhảy lầu, tôi phát nguyện….’

Tôi đứng bật dậy, đưa hai tay bắt tay người bạn già, nâng niu như bàn tay một người trưởng thượng trong gia đình lâu ngày không gặp. Chúng tôi nhìn thẳng vào mắt nhau, chẳng cần nói điều gì thêm.

Mấy năm rồi hễ có ai về tôi đều nhờ ghé tìm thăm ông Sáu Hấu của tôi. Chẳng ai cho được một chi tiết cụ thể nào. Ai cũng nói hỏi không ra, không biết ông đi đâu rồi. Cái ao cá hố bom trước nhà ông bây giờ đã lấp mất, biến vào Không như dật sử đời ông. Sau cùng có người mơ hồ cho tôi biết ông vấp miễng sành hay đạp miểng bom, đinh sét gì đó rồi bị phong đòn gánh giựt chết. Riêng tôi nghĩ rằng ông đã lìa bỏ xác phàm, xa rời cõi có không trần cảnhđể đi vào Cõi Không rốt ráo. Ông hóa thân xuống ban dạy từ bi cho người đời, thức tỉnh lòng hỉ xã trong tôi lâu nay đương mê ngủ. Có thể công nghiệp đã xong, ông chọn cách tịchgây nhiều cảm xúc nhằm nhắn nhủ gì đó với đời, chẳng hạn như: Đất nước chưa thật sự an lành, nỗi rủi ro bất hạnh vẫn đương rình rập dân đen từng giờ… Biết đâu được nà! Bài học ở đời nhan nhản quanh ta, khó là tự ta phải biết tìm ra bài để học.

Ở phương trời xa xôi, đôi lúc ngồi ngắm mây trời phiêu lãng trôi, nhớ xứ sở, tôi trách thầm khi thấy mình ngày đó ngu ngơ không giải nỗi bài toán tại sao lại quét mộ Cụ Phan. Ông Sáu Hấu đã gián tiếp cho lời gợi ý: ‘Giữa người yếu không thể tự vệ là dân ba tỉnh Miền Nam và kẻ xách vũ khí đi xâm lược là thực dân Pháp ai là kẻ đáng tôn vinh, ai là người nên xếp vào hàng bất xứng?’

Trần Tấn và Đặng Như Mai là ai?

Trần Tấn thi đậu Tú tài sớm, nhưng mấy khoa sau thi rớt  cử nhân, về quê dạy học. Ông là một sĩ phu yêu nước; chủ trương chống Pháp xâm lược và chống chính sách khuất phục phương Tây của triều đình Huế. Vào đầu xuân 1874 Trần Tấn cùng với học trò là tú tài Đặng Như Mai cùng quê Nghệ An, phổ biến thơ và hịch chống triều đình; đồng thời tụ tập một số nhân sỹ phu yêu nước và  đồng bào chống đạo. Phong trào đòi Tổng đốc Nghệ Tĩnh họp hội nghị bàn việc đánh Tây. Trong hội nghị hai ông được mọi ngườií cử ra đứng đầu phong trào. Họ bắt đầu diệt người theo đạo ở Nghệ An; có lúc quân của nhóm này chiếm đến tám phủ huyện của tỉnh. Cuộc khởi nghĩa còn được biết đến là cuộc khởi nghĩa năm Giáp Tuất; có cơ lan rộng ra các tỉnh khác.

Để chống lại, triều đình Huế cử Khâm sai Nguyễn Văn Tường và Thống đốc Lê Bá Thận hội quân với quân Pháp vây đánh quân khởi loạn. Trần Tấn, Đặng Như Mai liền rút quân lên rừng, liên minh với các lực lượng nghĩa quân Trần Quang Cán, Nguyễn Vĩnh Khanh, Trương Quang Thư, Nguyễn Huy Điểm (Tá Khanh) chỉ huy đánh Pháp.
Quân triều đình, quân Pháp đem toàn lực tấn công. Trần Tấn bị bệnh ốm chết. Đặng Như Mai bị nội phản bắt giao cho quân Pháp, bị chúng xử tử. Cuộc khởi nghĩa tan rã.

Phong trào Văn Thân do các nho sĩ Việt Nam lãnh đạo với mục tiêu dẹp người Pháp, giết người Công giáo. Phong trào phát khởi năm 1864 bằng cuộc bãi thi của sĩ tử trong kì thi Hương tại các trường miền Bắc và miền Trung, phản đối Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhượng 3 tỉnh miền Đông của Nam phần cho Pháp. Phong trào này bùng phát dữ dội tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Phong trào tự phát  tàn sát bừa bãi người Công giáo. Phong trào Văn Thân đưa ra khẩu hiệu “Bình Tây, Sát Tả” nhưng họ chỉ giết người Công giáo, đẩy người Công giáo vào chỗ phải tự vệ. Trong bối cảnh đương thời, Phan Ðình Phùng (1847- 1895) đã đưa ra khẩu hiệu “Lương Giáo thông hành“, nhưng lời của ông bị phớt lờ trong hận thù của những người Văn Thân.

Giáo sư Trần Văn Giàutrong, Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Nhà xuất bản tổng hợp TPHCM 1993 đã nhận xét, không thể chối cãi rằng phong trào 1874 ở Nghệ Tĩnh là phong trào yêu nước. Nhưng cũng không thể chối cãi rằng các nhà Văn Thân yêu nước đã làm những điều rất sai chính trị khi họ xem việc “sát tả” là điều kiện thứ nhất của việc “bình Tây”. Họ vô tình đẩy tất cả những người đạo đồ Thiên Chúa qua bên giặc Pháp. Họ đặt nhiệm vụ “gìn giữ văn minh Nho giáo” cho cuộc vận động, như thế là bó hẹp quá,  cứu nước Việt Nam, chớ nào chỉ bảo vệ riêng một đạo nào; các nhà Văn thân khởi nghĩa vô hình trung đã tự cô lập mình.

Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim cho biết ở mạn Nghệ Tĩnh thời đó có loạn: “nguyên lúc bấy giờ dân trong nước ta chia ra làm hai phái : bên lương, bên giáo ; hai bên vẫn không ưa nhau. Đến khi xảy ra việc đại-úy Francis Garnier lấy Hà-nội, bọn sĩ-phu ở mạn Nghệ Tĩnh thấy giáo-dân có nhiều người theo giúp ông ấy, thì lấy làm tức giận lắm, bèn rủ nhau nổi lên đánh phá””

Sách kể lại rằng, ”Tháng giêng năm giáp-tuất ( 1874 ), là năm Tự-đức thứ 27, đất Nghệ-an có hai người tú-tài là Trần Tấn và Đặng như Mai hội-tập cả các văn-thân trong hạt, rồi làm một bài hịch gọi là « Bình Tây Sát Tả », đại-lược nói rằng : « Triều-đình dẫu hòa với Tây mặc lòng, sĩ-phu nước Nam vẫn không chịu, vậy trước nhất xin giết hết giáo-dân, rồi sau đánh đuổi người Tây cho hết, để giữ lại cái văn-hóa của ta đã hơn 1.000 năm nay, v. v. » Bọn Văn-thân cả thảy độ non ba nghìn người, kéo nhau đi đốt phá những làng có đạo”

Vẫn theo sử gia này thì. “Nước ta mà không chịu khai-hóa ra như các nước khác là cũng bởi bọn sĩ-phu cứ giữ thói cũ, không chịu theo thời thế mà thay đổi. Nay sự suy-nhược của mình đã sờ sờ ra đấy, thế mà vẫn cứ không chịu mở mắt ra mà nhìn, lại vì sự tức-giận một lúc mà việc nông-nổi càn-rỡ, để cho thiệt-hại thêm, như thế thì cái tội-trạng của bọn sĩ-phu đối với nước nhà chẳng to lắm ru !”

Lúc bấy giờ quan tổng-đốc Nghệ-an là ông Tôn thất Triệt lại có ý dung-túng bọn Văn-thân, cho nên họ càng đắc thế càng phá dữ. Triều-đình thấy vậy, mới truyền bắt quan quân phải dẹp cho yên. Bọn Văn-thân thấy quan quân đuổi đánh, bèn cùng với bọn giặc Trần quang Hoán Trương quang Thủ, Nguyễn huy Điển đánh lấy thành Hà-tĩnh, rồi ra vây phủ Diễn-châu.

Triều-đình thấy thế giặc càng ngày càng to, bèn sai ông Nguyễn văn Tường ra làm khâm-sai, và ông Lê bá Thận làm Tổng-thống, đem quân ra đánh-dẹp, từ tháng hai đến tháng 6 mới xong.

Phan Thanh Tâm

Saint Paul, Dec 2018.

Xuất xứ câu Phan Lâm mãi quốc; triều đình thi dân

Phong trào Văn thân Nghệ Tĩnh nổi lọan chống Hòa ước Giáp Tuất 1874 và bài đạo do hai ông tú Trần Tấn (?- 1874) , Đặng Như Mai (?- 1874) khởi xướng đã phổ biến tám chữ Phan Lâm mãi quốc; triều đình thi dân. Nhà nghiên cứu sử học Nguyễn Đình Tư trong buổi hội thảo về cuốn sách Phan Thanh Giản-Nỗi Đau Trăm Năm tại trụ sở Hôi Trí Thức Yêu Nước ở 43 Nguyễn Thông Saigon đã khẳng định  như vậy. Ông nói, câu đó phát xuất từ đàng ngoài ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Nhà nghiên cứu giải thích, vì cho rằng thời vua Tự Đức năm thứ 27 đã cắt đất cầu hòa, nhượng bộ thực dân Pháp quá nhiều. nên hai vị thủ lãnh họ Trần và họ Đặng đã phát động cuộc khởi nghĩa chống triều đình, chủ trương Bình Tây Sát Tả, giết hết giáo dân và đuổi sạch giặc Tây.

Nhà văn Hoàng Lại Giang (hình bên mặt), năm 1938 tại Bình Định, tác giả cuốn sách về cụ Phan, nhân qua Mỹ thăm con, hiện định cư ở Minnesota, hồi mùa hè 2014, khi đến viếng chùa Phật Ân ở Roseville đã kể lại cho tôi về buổi hội thảo và cho biết lai lịch hai câu trên. Ngoài thất thập, từ nhũng năm 1980, nhà văn Hoàng Lại Giang đã viết các cuốn sách về “vết thương lịch sử”; như cuốn Phan Thanh Giản: “nỗi đau trăm năm”; Lê Văn Duyệt:” từ nắm mộ oan khuất đến Lăng Ông”; hay Trương Vĩnh Ký “bi kịch muôn đời”. Trước khi nghỉ hưu, ông làm giám đốc nhà xuất bản văn học chi nhánh miến Nam.

Trong một emailsau đó, nhà văn này còn nêu rõ trong buổi hội thảo năm 1996 có sự hiện diện của nhiều Giao sư:  Trần Văn Giàu, Hoàng Như Mai, Nguyễn Văn Trung,  Lý Chánh Trung, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Lộc; các nhà nghiên cứu: Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Duy Nhường, Như Hiên,  Nguyễn Đình Tư, Nguyễn Q Thắng và các nhà văn :Sơn Nam,  Mai Văm Tạo.  Ý Nhi, Chim Trắng..; các nhà lãnh đạo: Dương Đình Thảo, giám đốc sở văn hoá, Nguyễn Sơn phó Ban tuyên huấn  thành uỷ.; các nhà  báo và  đọc giả  mấy trăm người, chật cả hội trường. Mọi ngươi hầu như đều đồng ý với lập luận về xuất xứ hai câu nói trên của nhà nghiên cứu sử học Nguyễn Đình Tư.

Theo báo Tuổi trẻ on-line ngày 29/11/18, trong  lễ trao tặng kỷ niệm  “Vì sự nghiệp sử học Việt Nam” cho nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư do Tạp chí Xưa & Nay và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức vào chiều 3-10- 18, Ông Nguyễn Đình Tư được ghi nhận là người đã có những nỗ lực không ngừng trong việc tìm kiếm các nguồn tư liệu, đào sâu các đề tài sử học và hoàn thành các công trình  giá trị. Ông có khoảng 60 đầusách đã xuất bản. Một công trình ông đang sắp hoàn thành với nội dung : “Từ điển đối chiếu miếu hiệu, tôn hiệu, tước hiệu và tên người trong lịch sử phong kiến Việt Nam”. Ông Nguyễn Đình Tư đã ngoài 90, sinh năm 1922 tại Thanh Chương, Nghệ An; năm 1996 ông là ủy viên thường trực Hội đồng đặt và đổi tên đường ở Saigon.

Cũng theo báo trên, trước năm 1975 ông đã thu thập được nhiều tài liệu quí viết trong các cuốn sách như: Non nước Phú Yên (1964), Đia chí Khánh Hòa (1972), Non nước Ninh Thuận (1974), và các công trình về sau như: Đường phố nội thành TP.HCMTừ điển địa danh hành chính Nam Bộ, Non nước Quảng Trị, Tiểu sử và hành trạng các nhà khoa bảng Hán  học Nam Bộ, Sổ tay tên đường ở thành phố Hồ Chí Minh, Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ.Trước năm 1975, ông làm việc tại Ty Điền địa Phú Yên, viết bài về Phú Yên cho tạp chí Bách khoa Phổ thôngNha Điền địa (Bộ Canh nông). Ông là người đề xuất đặt cho Saigon có hai con đường Hoàng Sa và Trường Sa.

Điều xác quyết của nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đình Tư đã bác bỏ luận cứ, cách đây hơn nửa thế kỷ, của “anh cả giới sử học Hà nội” Trần Huy Liệu (1901-1969) – cha đẻ cây đuốc xạo Lê Văn Tám – khi cho rằng hai câu “Phan, Lâm mãi quốc; triều đình thi dân” đã được “biểu hiện trong tám chữ đề cờ của dân quân Tân-an Gò-công mà thủ lĩnh là Trương Công Định”.Nhà cách mạng sử học họ Trần,Viện trưởng Viện Sử Học, đã vin vào tám chứ đó để lên án  cụ Phan là đã “dâng thành hiến đất cho giặc”. Lập luận này ông viết trong bài “Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản”. được đăng trên Tạp chí Nghiên cưú lịch sử số 55 do ông làm Chủ nhiệm và Tổng biên tập xuất bản ở Hà nội tháng 10 năm 1963.

Nguyễn Văn Trấn (1914 – 1998) còn gọi Bảy Trấn, một nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động cách mạng chống Pháp, Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9 và giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc. trong cuốn “Chợ Đệm Quê Tôi”, nhà xuất bản Văn nghệ, năm 1985 cũng cho câu nói này xuát xứ ở đàng ngoài. Ông viết, “chớ tôi từng đọc sách sử, chưa thấy ở trong Nam này có sĩ phu bốc đồng nào nói ra câu biamiệng đó”. Ngoài ra, tác giả Khanh Phan. trong cuốn tiếng Việt “Sử Việt Nam Theo Dòng Lịch Sử Họ Phan” và tiếng Anh “Phan Thanh: A Family History In Vietnamese”, năm 2015, nhận định rằng, từ năm 1956 cọng sản Bắc Việt đã muốn tạo mối căm  thù cụ Phan, một biểu tượng hào khí Miền Nam, cho nhân dân Miền Bắc, nên Viện Trưởng Viện  sử họcTrần Huy Liệu mới tìm cách chứng minh cụ bán nước bằng cách thêu dệt ra chuyện “tám chữ đề cờ của dân quân Tân-an Gò-công mà thủ lĩnh là Trương Công Định”.

Lại thêm , trong website http://www.nuiansongtra.com/index.php?c=article&p=47, diễn đàn của người dân Quảng Ngải,  qua bài “Thơ Văn Xưa về Anh Hùng Kháng Pháp Trương Công Định (1820-1864)”, của tác giả Trương Quang Cẩm Thành, còn cho thấy trên cờ của Tướng Công không có tám chữ đó. Theo tác gỉa  trước khi phát động cuộc chiến chống quân xăm lăng – sau khi ba tỉnh Miền Đông (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) + Vĩnh Long rơi vào tay Pháp 1861 và Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 -. Trương Công đã tranh thủ nhân tâm bằng bài hịch đánh giặc Pháp. Bài hịch, do Nguyễn Đình Chiểu viết, được truyền bá khoảng năm 1862-1864  trong đó có đoạn: Đêm năm canh thương người chính liệt; ngày sáu khắc nhớ kẻ trung thần; chốn biên thùy lãnh ấn Tổng binh; cờ đề chữ “Bình Tây Đại Tướng”. Ngày 18-8 năm Giáp Tý, Tự Đức 17, Trướng Công bị nội phản, bị thương nặng; liệu không thoát, ông rút dao tự vẫn chết. Bài báo đính kèm bài của Nguyễn Thông, một danhh sĩ thời bấy giờ ca tụng Trương Công Định, người gốc Quảng Ngải, theo cha vào Nam thời vua Thiệu Trị. Nhà sử học họ Trần đã lấy biếncố  1874 ở Nghệ An đàng ngoài thành biến cố ở Gò Công trong Nam,

Thông Báo 2

giải thưởng văn học và cấp học bổng cho hoc sinh sinh viên.

Thông báo

 

Nhằm Phát Huy Văn Hóa và Giáo Dục Nhân Bản của Dân Tộc Việt Nam, Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản sẽ thực hiện hai dự án: giải thưởng văn học và cấp học bổng cho hoc sinh sinh viên.

Quí vị quan tâm đến hai đỉều này xin gởi cho chúng tôi ý kiến theo đỉa chỉ emaildưới đây. Chúng tôi đúc kết, thảo ra điều lệ và sẽ công bố trên các cơ quan truyền thông hải ngoại vào dịp Đại Hội Thế Giới PTG-ĐTĐ XXÌI SAN JOSE, CA 2018.

Thủ tục xét giải? Các tác phẩm muốn được cứu xét phải bằng tiếng Việt có thể bất cứ từ đâu? Trong nước? Ngoài nước? Các ứng viên muốn được cấp học bổng phải đat được những tiêu chuẩn nào? Trong nước, ngoài nước ở khắp nơi?

Đó là chỉ đơn cử vài điều; xin quí vị cho biết thêm.Sự đóng góp mọi mặt bằng gợi ý hay tài lực.. của quí vị là một khích lệ lớn cho chúng tôi trong nổ lực phục vụ công đồng và nước Việt Nam.

Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản
được thành lập năm 2014 tại Arizona.
Trụ sở hội ở Massachusetts, Hoa Kỳ.
Chủ tịch Hội Đồng Đại Diện: Phan Thanh Tâm;
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành: Bác Sĩ Thái Ngọc Ẩn.

Ngày 1 tháng 9 năm 2017.

tm Hội Văn Hóa & Giáo Dục Phan Thanh Giản

 

Phan Thanh Tâm

Thông Báo 1

Thành Lập HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC PHAN THANH GIẢN FOUNDATION

Kính gởi:

Các Quý Vị cựu Giáo Sư cùng Quý Anh Chị Em cựu học sinh Trung Học Phan Thanh Giản và Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm – Cần Thơ

Nhân dịp các Quý Vị và các Bạn quy tụ về Phoenix tiểu bang Arizona Hoa Kỳ tham dự Đại Hội XVIII của trường chúng ta, chúng tôi cựu giáo sư Phạm Văn Đàm và Nguyễn Trung Quân sẽ cùng một số cựu học sinh PTG và ĐTĐ tổ chức một cuộc hội thảo về việc thành lập một hội mang tên là HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC PHAN THANH GIẢN FOUNDATION để có cơ sở pháp lý cho các sinh hoạt của cựu học sinh Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm Cần Thơ ở Bắc Mỹ Châu.

Sau gần 20 năm sinh hoạt tại hải ngoại, tập thể cựu Giáo Sư và cựu Học sinh đã đến với nhau trong tình sư đệ, nghĩa đồng môn thân mật, đậm đà, thân ái. Những lần Đại Hội, các Đặc San, những buổi gặp gỡ…đã phần nào thể hiện tình nghĩa nầy. Có lẽ chúng ta đều mong muốn những sinh hoạt nầy tồn tại lâu dài.

Trong niềm mong ước đó, hôm nay chúng tôi xin gởi đến Quý Vị Thông Báo nầy để đề nghị một phương cách sinh hoạt vừa hỗ trợ cho các ĐH và ĐS sắp tới, vừa duy trì và mở rộng tầm sinh hoạt của tập thể chúng ta trong lãnh vực Văn Hóa Giáo Dục.

Sau những lần thảo luận với các cựu đồng nghiệp và cựu học sinh PTG-ĐTĐ các nơi, chúng tôi đã thành lập được Ban Tổ Chức của cuộc Hội Thảo như sau:

-Cựu GS Phạm Văn Đàm: Trưởng ban (TB)

-Cựu HS/GS Nguyễn Trung Quân: Phụ tá đặc trách kế hoạch

-Cựu HS Lê Văn Hai: Phụ tá đặc trách Tổ chức

-Cựu HS Nguyễn Công Danh: Phụ tá đặc trách truyền thông

-Cựu HS Lê Hoàng Viện: Thư Ký Ban Tổ Chức

-Cựu HS Nguyễn Thị Gấm: Thủ Quỹ

Ngoài ra chúng tôi, bước đầu cũng đã mời được Quý Vị Huynh Trưởng, Đồng Nghiệp, Đồng Môn sau đây làm Cố Vấn cho BTC:

-Cựu GS Lưu Khôn

-Cựu GS Nguyễn Văn Bằng

-Cựu GS Phạm Thị Kim Chi

-Cựu GS Dương Hồng Đức

-Cựu GS Trần Thị Nhơn

-Cựu HS Nguyễn Phước Trang

-Cựu HS Văn Thanh

-Cựu GS Phan Thanh Thư

-Cựu GS Võ Văn Trí

-Cựu HS/GS Nguyễn Văn Trường

-Cựu HS Trần Anh Võ

-Cựu HS Triệu Huỳnh Võ

Mục tiêu, đường hướng và cơ cấu của Phan Thanh Giản Foundation sẽ được trình bày, thảo luận và ấn định trong buổi Hội Thảo từ lúc 1 giờ 30 đến 4 giờ chiều ngày 11tháng 10 năm 2014 tại Hội trường Khách sạn Comfort Inndo BTC/ĐH XVIII giúp. Các hội thảo viên vẫn có thể đi thăm viếng Thành phố Phoenix theo chương trình của BTC/ĐH nhưng không ăn trưa tại công viên mà sẽ trở lại khách sạn dùng buổi trưa và dự cuộc Hội Thảo để sau đó được đưa đi tham dự Đêm Đại Hội.

Xin các nơi đã từng tổ chức ĐH/PTGĐTĐ Cần Thơ cử 2 đại diện tham dự cuộc Hội Thảo về PTG Foundation. BTCHội Thảo sẽ có thư mời các cựu giáo sư và cựu học sinh những nơi chưa từng tổ chức ĐH theo danh sách sẵn có.

Lẽ dĩ nhiên tất cả các vị đến tham dự ĐH XVIII đều có thể vào dự khán và đóng góp ý kiến khi hội trường còn chỗ.

Mong rằng Quý Vị Giáo Sư và các Cựu học sinh PTG-ĐTĐ Cần Thơ sẽ tích cực hỗ trợ cho cuộc Hội Thảo nầy để chúng ta có thể thành lập được một cơ cấu có điều lệ, nội quy phù hợp với luật lệ của vùng Bắc Mỹ cho những sinh hoạt xây dựng tốt đẹp về sau, giữ truyền thống Phan Thanh Giản – Đoàn Thị Điểm Cần Thơ được lâu dài mãi.

Cần biết thêm chi tiết, xin liên lạc: Phạm Văn Đàm: 480-357-0446, Nguyễn Trung Quân: 714-556-2683 và Email: Phan Thanh Giản Foundation : cultureandeducation@gmail.com

Trân trọng,

(Ký tên)                                                                   (Ký tên)

 Nguyễn Trung Quân                                                Phạm Văn Đàm